Ramen là gì, có mấy loại, cách làm mì ramen của Nhật?

Ramen là một hệ thống truyền thông món ăn ở Nhât Bản. Ramen thường được ăn kèm với nhiều loại topping khác nhau như thịt, trứng, rong biển. Người Nhật thưởng thức món mì ramen theo một cách rất riêng và đặc trưng. Hãy cùng baoasahi.com tìm hiểu ngay nhé! Ramen là gì? Ramen (kanji ra-a-men ー 拉 麺, tuy rằng cách viết bằng Katakan ラ ー メ ン là phổ biến nhất hiện nay) bắt nguồn từ một từ...

Có thể bạn quan tâm:

Ramen là một hệ thống truyền thông món ăn ở Nhât Bản. Ramen thường được ăn kèm với nhiều loại topping khác nhau như thịt, trứng, rong biển. Người Nhật thưởng thức món mì ramen theo một cách rất riêng và đặc trưng. Hãy cùng baoasahi.com tìm hiểu ngay nhé!

Mục lục

Ramen là gì?

Ramen (kanji ra-a-men ー 拉 麺, tuy rằng cách viết bằng Katakan ラ ー メ ン là phổ biến nhất hiện nay) bắt nguồn từ một từ tiếng Trung “Lamian” có nghĩa là sợi mì được. Mặc dù cửa hàng mì ramen có tên Rairaiken được mở cửa chính vào năm 1910 ở Asakusa, mì ramen không phải là một món ăn phổ biến. Cho đến tận cùng khi Chiến tranh Thế giới lần 2 kết thúc, những loại bột mì rẻ tiền được nhập từ Mỹ bắt đầu xuất hiện tại khu chợ và những người lính Nhật từng đóng quân ở Trung Quốc trở về nước và mở các cửa sổ Mì, món mì ramen mới dần dần được Nhật hóa.

Mì Ramen có từ khi nào?

Có rất nhiều tài liệu khác nhau ghi chép về nguồn gốc của mì ramen, mà phổ biến nhất là sự xuất hiện của mì ramen ở Nhật Bản vào năm 1665, khi lãnh chúa Mito Mitsukuni (còn được biết đến với cái tên Mito Komon) nếm thử món ăn Trung Hoa mà trong đó mì được nấu với súp. Tuy nhiên, người ta tin rằng mì ramen được du nhập từ Trung Quốc vào Nhật Bản khi xứ Phù Tang mở cửa biên giới vào thời Minh Trị (Meiji), dẫn đến việc mở cửa các hàng mì trong khu phố người Hoa (Chinatown) ở Yokohama.

Ramen là gì, có mấy loại, cách làm mì ramen của Nhật Bản?

Mì ramen đã củng cố vị trí của nó trong văn hóa ẩm thực của người Nhật vào năm 1958, sau khi Andou Momofuku (安藤 百福), nhà sáng lập nên công ty thực phẩm Nissin, giới thiệu với công chúng món mì ăn liền mà sau này được thế giới công nhận là phát minh vĩ đại nhất của Nhật Bản vào thế kỉ 20. Hiện nay, số liệu ghi nhận trung bình một người dân Nhật Bản sẽ dùng mì ăn liền 40 lần 1 năm và đối với người Việt Nam chúng ta, đặc biệt là các bạn sinh viên, con số này có thể gấp đôi hoặc gấp 3 không chừng. Vào những thập kỷ gần đây, mì ramen đã trở nên cực kì thông dụng với rất nhiều loại mì khác nhau được chế biến và hàng trăm cửa hàng mì ramen được mở cửa khắp Nhật Bản lẫn trên toàn thế giới.

Các loại ramen của Nhật

Thức ăn được dọn kèm ramen Nhật Bản

Ramen luôn được ăn kèm với 3 hoặc 4 loại topping khác nhau, và nếu muốn thêm topping bạn thường phải trả thêm 100 đến 200 yên cho mỗi loại.

Dưới đây là danh sách các loại topping phổ biến nhất được dọn cùng với mì ramen.

Thông thường, bạn sẽ được dọn một bát ramen kèm theo một khoanh thịt xá xíu, một miếng rong biển khô, vài lát măng khô, và nửa trái trứng lòng đào.

Cách ăn mì ramen theo chuẩn người Nhật

Sợi mì ramen Nhật Bản

Sợi mì ramen được cấu thành từ 3 nguyên liệu chính là bột mì, muối, và một loại chất khoáng alkaline có tên là kansui. Người ta có thể gia giảm các nguyên liệu trên với nhiều tỉ lệ khác nhau để có thể tạo thành một loại mì có kết cấu hoàn toàn mới. Thêm nữa là sợi mì sẽ được lựa chọn để đi đôi với độ sánh của loại súp, từ những sợi mì thẳng đuột tới những sợi mì cong cong, hoặc những sợi mì mập tròn và những sợi mì thuôn dài. Ở những cửa hàng mì ramen, bạn có thể lựa chọn kích cỡ sợi mì tùy theo sở thích của bản thân, như mì sợi nhỏ (hoso-men 細麺), sợi bản to (futo-men 太麺) hoặc sợi mì có kích cỡ thông thường (futsuu 普通).

Lời khuyên nhỏ là đối với các loại súp đậm đà và béo ngậy như súp xương heo (tonkotsu 豚骨), hãy chọn sợi bản to trong khi chọn sợi bản nhỏ với các loại súp có vị thanh và nhẹ nhàng như súp rau củ

Súp mì ramen Nhật Bản

Súp của mì ramen được chế biến từ 3 thành phần chính là Dashi, Tương tare, và dầu Koumi-abura.

Dashi chính là nền tạo nên súp mì ramen.

Nguyên liệu nấu dashi phổ biến nhất thường là Xương heo hoặc xương gà, tạo nên hương vị beo béo cho nước súp. Những người yêu thích sự thanh nhẹ của nước súp có thể thay thế bằng vụn cá ngừ băm nhuyễn (katsuo-bushi), rong biển chua (konbu), cá trích sấy khô (niboshi) và một số loại hải sản khác. Người ta thường chỉ sử dụng một loại dashi duy nhất để nấu súp. Rất hiếm đầu bếp nào kết hợp 2 loại khác nhau.

Tương tare là một loại tương dùng để thêm hương vị cho dashi. Có 3 loại tương tare chính là Shoyu (nước tương Nhật Bản), muối, và miso (tương đậu nành lên men).

Dầu gia vị (Koumi-abura) tạo nên sự đậm đặc và tăng thêm vị umami cho nước súp, tuy rằng một số món mì ramen không thích cho dầu để tránh nước biến trở nên quá dầu mỡ. Một số loại dầu gia dụng hiện nay là mỡ heo, dầu mỡ, dầu nhớt, v.v.

Vì nước chính là cấu trúc xương sống, nên vị ngon của mì ramen, người ta sẽ đặt tên ramen theo nước của nó. Những đầu bếp nấu ramen phải mất một khoảng thời gian rất dài để có thể gia giảm nguyên liệu để nấu thành nồi canh đậm đặc, tinh tế, góp phần làm tăng vị ngon của sợi mì và các loại thức ăn kèm theo

Baoasahi.com: Báo Nhật Bản tiếng Việt cho người Việt

Tin tức nước Nhật online: Nhật Bản lớn thứ 2 tại Nhật BẢn cập nhật thông tin kinh tế, chính trị xã hội, du lịch, văn hóa Nhật Bản
Ngày 14/11 năm 2020 | Nước Nhật | Tag: . .